đồ chừng

đồ chừng

Anh ấy đồ chừng chiếc bàn này dài khoảng hai mét.

Định nghĩa
  1. Động từ:
    • Ước lượng, phỏng đoán một cách không chắc chắn: Hành động đưa ra một con số, kết quả hoặc nhận định dựa trên quan sát, cảm tính hoặc kinh nghiệm cá nhân, thay vì dựa trên phép đo chính xác hay dữ liệu đầy đủ.
dụ sử dụng
  • Động từ:
    • Anh ấy đồ chừng chiếc bàn này dài khoảng hai mét. (Anh ấy ước lượng chiếc bàn này dài khoảng hai mét.)
    • Tôi chỉ đồ chừng số lượng khách đến dự tiệc thôi, không biết đúng không. (Tôi chỉ phỏng đoán số lượng khách đến dự tiệc thôi, không biết đúng không.)
    • ấy đồ chừng mình phải mất ba tiếng để hoàn thành công việc. ( ấy ước lượng mình phải mất ba tiếng để hoàn thành công việc.)
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Đồ chừng đại": Ước lượng một cách rất sơ sài, qua loa, không cẩn thận.

    • Anh đừng đồ chừng đại thế, phải tính toán cho kỹ một chút. (Anh đừng ước lượng qua loa thế, phải tính toán cho kỹ một chút.)
  • "Đồ chừng chừng": Cách nói nhấn mạnh tính chất ước lượng, phỏng chừng.

    • Tôi đồ chừng chừng giá căn nhà này khoảng năm tỷ. (Tôi phỏng chừng giá căn nhà này khoảng năm tỷ.)
Biến thể từ gần giống
  • Ước chừng (động từ): Có nghĩa tương tự "đồ chừng", dùng để chỉ việc ước lượng một con số gần đúng.

    • Hãy ước chừng xem chúng ta cần bao nhiêu gạo cho chuyến đi. (Hãy phỏng đoán xem chúng ta cần bao nhiêu gạo cho chuyến đi.)
  • Phỏng đoán (động từ): Đưa ra giả thuyết, dự đoán dựa trên những dấu hiệu sẵn.

    • Cảnh sát đang phỏng đoán động cơ gây án. (Cảnh sát đang đưa ra giả thuyết về động cơ gây án.)
Từ đồng nghĩa
  • Ước lượng: Tính toán, đánh giá cho ra một con số hay mức độ gần đúng.
  • Phỏng chừng: Đoán, ước tính một cách tương đối.
  • Đoán: Đưa ra ý kiến về điều chưa biết .
Từ trái nghĩa
  • Đo đạc: Xác định chính xác kích thước, số lượng bằng dụng cụ.
  • Tính toán: Xác định bằng các phép toán chính xác.
  • Khẳng định: Nói chắc chắn, khẳng định một điều đó đúng.
Thành ngữ liên quan
  • "Mười đồ chừng không bằng một cái cân": Thành ngữ này nhấn mạnh sự thiếu chính xác của việc ước lượng bằng mắt thường hay cảm tính so với việc đo lường bằng công cụ chính xác (cái cân). Khuyên người ta nên dựa vào số liệu cụ thể thay vì phỏng đoán.
    • Cứ phải cân đo cho kỹ, mười đồ chừng không bằng một cái cân đâu. (Cứ phải cân đo cho kỹ, ước lượng mười lần cũng không bằng cân một lần cho chính xác đâu.)